Trong những năm gần đây, việc giảng dạy ngoại ngữ ở các trường đại học, cao đẳng trên cả nước theo hướng giao tiếp là phương pháp chủ đạo được áp dụng rộng rãi. Việc rèn luyện cho sinh viên (SV) khả năng sử dụng ngôn ngữ thông qua bốn kỹ năng: nghe (listening), nói (speaking), đọc (reading), viết (writing) được xem là mục tiêu cơ bản trong tiến trình dạy và học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Bộ môn Ngoại ngữ thuộc Khoa Giáo dục Đại cương trường Cao đẳng Sơn La đã sử dụng các bộ giáo trình khác nhau để giảng dạy cho sinh viên các khối không chuyên như: Lifeline, New headway, New English file và mới đây là giáo trình Solution … những bộ giáo trình này đều được nhóm tác giả biên soạn theo hướng dạy và học theo phương pháp giao tiếp (PPGT). Bài viết này đi vào phân tích thực trạng vận dụng PPGT trong việc dạy tiếng Anh cho sinh viên không chuyên trường Cao đẳng Sơn La và đề xuất một số giải pháp khắc phục.

2. Thực trạng và những hạn chế trong việc vận dụng phương pháp giao tiếp trong giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ trường Cao đẳng Sơn La.

2.1 Sinh viên có xuất phát điểm thấp, không tích cực tham gia các hoạt động trong lớp và không có động cơ thúc đẩy việc học tập tiếng Anh.

Xuất phát điểm của sinh viên không chuyên trường Cao đẳng Sơn La chỉ ở mức thấp, đặc biệt là năng lực sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp bằng tiếng Anh. Đây cũng là tình hình chung của các trường Cao Đẳng thuộc các tỉnh thuộc vùng khó khăn mà hầu hết sinh viên thuộc đối tượng dân tộc ít người được tuyển sinh từ vùng sâu vùng xa trong tỉnh. Phần lớn sinh viên phát âm tiếng phổ thông chưa chuẩn dẫn đến việc phát âm chưa đúng các từ tiếng Anh theo phiên âm quốc tế, chưa đúng trọng âm, đặc biệt hay bỏ các âm cuối như âm /s/; /st/; /th/ phát âm sai các từ có đuôi /ed/ như trong từ hoped và washed; /t/ trong từ wanted và added; /id/ trong từ played và cried ... Việc phát âm không chính xác dẫn đến sinh viên rất ngại giao tiếp bằng tiếng Anh ngay cả trong giờ thực hành ngôn ngữ. Sự chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ cũng gây ảnh hưởng lớn đến phương thức diễn đạt hay chất lượng giao tiếp. Ví dụ các quy tắc về danh từ số ít, số nhiều, quy tắc về thì

2.2 Ảnh hưởng của yếu tố tâm lí.

          Thực tế cho thấy có khá nhiều sinh viên tâm lí không tốt, thiếu tự tin trong giao tiếp, còn rụt rè, nhút nhát khi tham gia giờ học tiếng Anh được thiết kế theo PPGT. Thậm chí, nhiều sinh viên, kể cả những sinh viên có kiến thức cơ bản về tiếng Anh khá tốt vẫn có cảm giác xấu hổ, e ngại vì tâm lí sợ bị người khác chê cười khi mắc lỗi về phát âm, đọc sai, viết sai từ, đọc không đúng trọng âm hay nói không đúng ngữ điệu … Tất cả những điều trên ảnh hưởng không nhỏ đến việc giảng viên vận dụng PPGT vào các giờ dạy tiếng Anh của học sinh, sinh viên.

2.3 Giữa thi, kiểm tra và giảng dạy chưa có sự đồng bộ.

Hiện nay, cũng như phần lớn các trường Cao đẳng khác trên địa bàn Tỉnh, trường Cao đẳng Sơn La sử dụng đề thi tiếng Anh cho sinh viên không chuyên theo phương pháp truyền thống, nghĩa là người học chỉ cần làm một bài viết với trọng tâm là kiến thức ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng và đọc hiểu … Chính hình thức thi này là nguyên nhân gây ra những hạn chế trong việc vận dụng PPGT trong giảng dạy tiếng Anh. Các kì thi cũng không thề kiểm tra được năng lực giao tiếp toàn diện bằng ngoại ngữ của sinh viên. 

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng phuơng pháp giao tiếp trong giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ trường Cao đẳng Sơn La.

3.1. Sinh viên cần xác định rõ động cơ, thái độ học tập đúng đắn.

Giảng viên là người có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập rèn luyện của sinh viên vì vậy cần giúp cho sinh viên đánh giá đúng đắn sự cần thiết của tiếng Anh trong quá trình hội nhập để sinh viên xác định được động cơ, thái độ học tập tích cực, chiến lược học có hiệu quả.

3.2. Đối với yếu tố tâm lí

Người dạy nên dành nhiều thời gian hơn để quan sát, động viên, giúp đỡ kịp thời những sinh viên yếu kém khi họ gặp trở ngại trong hoạt động giao tiếp tiếng Anh. Giảng viên không lên áp dụng cứng nhắc những tình huống có sẵn trong giáo trình để tổ chức hoạt động giao tiếp mà thay vào đó lên sử dụng những tình huống có thật hoặc các tình huống sinh viên hay gặp để giúp sinh viên dễ vận dụng, qua đó người học tự liên hệ với bản thân và hình thành các tình huống giao tiếp thực tế (real situations)

3.3. Sự đồng bộ giữa thi và giảng dạy

Thay vì hình thức thi viết truyền thống giảng viên có thể áp dụng nhiều hình thức thi kiểm tra khác để đạt được mục tiêu của chương trình là sử dụng được tiếng Anh trong giao tiếp hằng ngày. Chẳng hạn như đề thi được thiết kế dưới dạng hoạt động giao tiếp theo nhóm cặp (debate) hay hình thức thi nói theo chủ đề (topic) mà các chủ đề có thể trích ra từ chương trình học. Với hình thức thi, kiểm tra như vậy người học bắt buộc phải tự giác hơn, tích cực hơn trong việc rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ: đặc biệt là kỹ năng giao tiếp, vốn là yếu tố đặc thù của PPGT.

Kết luận: Để tăng tính hiệu quả khi vận dụng PPGT trong quá trình dạy và học tiếng Anh nói riêng và ngoại ngữ nói chung, người dạy nên đa dạng hóa các hoạt động dạy học bẳng cách cải tiến nhiều loại hình hoạt động khác nhau nhằm tạo hứng thú cho người học. Ngoài những hoạt động thiết kế theo nội dung của giáo trình, giảng viên có thể lựa chọn những chủ đề hay hoặc các chủ đề nóng đang là mối quan tâm của xã hội nhằm lôi cuốn sự tích cực hăng hái tham gia của sinh viên. Mỗi giảng viên phải biết tạo mối quan hệ tương tác giữa trò với trò, giữa thầy với trò tạo nên sự bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên và tạo nên môi trường học tập an toàn.      

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Greg Bock. Teaching English in Vietnam. Teacher’s Edition, 2000

2.Candlin, ed. The Communicative. Teaching of English. Longman, 1981

3. Richard, J& T. Rodger. Approach and method in Language Teaching. 2nd Ed. Cambridge: Cambridge University Press, 1986

4. Widdowson. Teaching Language as Communication. Oxford: Oxford University Press. 1978

GV Nguyễn Thị Mai Hương - Khoa Giáo dục đại cương – Trường Cao đẳng Sơn La

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học là xu hướng tất yếu của giáo dục Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển hiện nay. Đối với các môn lý luận chính trị xuất phát từ đặc thù tri thức của các môn học này, tìm kiếm và áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp để nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên là yêu cầu cấp bách, góp phần nâng cao chất lượng quá trình dạy học.

Trong trường Cao đẳng Sơn La hiện nay, các môn lý luận chính trị hiện nay bao gồm các học phần:  Những nguyên lý cơ cản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Giáo dục chính trị. Đây là các môn học thuộc khoa học chính trị, có hệ thống kiến thức mang tính lý luận và khái quát cao. Với đặc thù môn học là nhiều thông tin, kiến thức hàn lâm và có sự liên kết chặt chẽ vớ nhau thì cần thiết sử dụng một phương pháp giúp cho người học dần hình thành tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Việc ứng dụng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học, lấy người học là trung tâm, giúp sinh viên hứng thú, tìm tòi, khám phá, ghi nhớ, tự do suy nghĩ và phát huy tiềm năng sáng tạo tri thức một cách khoa học

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong dạy và học tiếng Anh, một bầu không khí học tập vui vẻ với nhiều cơ hội được giao tiếp trong bối cảnh thực sẽ thúc đẩy người học hứng thú và tích cực hơn. Sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Anh có thể coi là một trong những phương pháp hữu hiệu để khích lệ, tăng cường hứng thú học tập cho SV và là bước khởi động thu hút sự chú ý của SV. Mặt khác, trò chơi ngôn ngữ còn được giảng viên (GV) sử dụng như phương tiện kiểm soát lớp học. Thực tế cho thấy, các trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Anh thường thúc đẩy động cơ học tập cho SV bởi sự đòi hỏi về tính tích cực và chủ động của người chơi. Hơn nữa, đối với hầu hết các trò chơi ngôn ngữ, sự cạnh tranh giữa những người chơi và đội chơi với nhau luôn là một yếu tố khích lệ người chơi tham gia. Đây cũng là lý do quan trọng nhất khiến hầu hết SV hứng thú và bị lôi cuốn vào các trò chơi. Trò chơi ngôn ngữ thường được áp dụng linh hoạt trong giảng dạy tiếng Anh nhằm phát triển bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cũng như cải thiện cách phát âm, phát triển vốn từ vựng và củng cố ngữ pháp cho SV. Tuy nhiên, hiệu quả quá trình sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong thực tế ở trường Cao đẳng Sơn La chuyên ngành tiểu học, mần non và công nghệ thông tin nói riêng đến nay vẫn chưa được chú ý. Vấn đề này cần được quan tâm, đặc biệt đối với việc giảng dạy tiếng Anh trong các chuyên ngành không chuyên ngoại ngữ. Trong bài viết này, nhóm tác giả khái quát hóa cơ sở lý luận về trò chơi ngôn ngữ được vận dụng trong giảng dạy tiếng Anh, đồng thời đánh giá hiệu quả của việc vận dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Anh thông qua việc đo lường cảm nhận của sinh viên chuyên ngành tiểu học, mầm non và công nghệ thông tin tại trường Cao đẳng Sơn La.

          Trước bối cảnh dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn tỉnh Sơn La đang diễn biến phức tạp nhằm đảm bảo mục tiêu chương trình, kế hoạch đào tạo của năm học 2021 - 2022, trường Cao đẳng Sơn La với phương châm "tạm dừng đến trường nhưng không dừng việc học" đồng thời đảm bảo an toàn cho sức khỏe của giảng viên và các em học sinh, sinh viên, Nhà trường đã thông báo hoãn lịch học trực tiếp, chuyển hình thức học sang trực tuyến để thích ứng với tình hình của dịch bệnh.

Thực hiện theo kế hoạch, khoa Giáo dục Đại cương đã tổ chức việc dạy và học trực tuyến cho các lớp  học sinh, sinh viên theo đúng thời khóa biểu đã được ban hành. Các thầy cô giáo đã kết nối được với các em học sinh, sinh viên của mình để làm sao tạo được sự tương tác tốt nhất. Nhiều nội dung liên quan đến các môn học đã được các thầy cô và học sinh, sinh viên tương tác qua máy tính, điện thoại thông minh ... Các thầy cô đã cố gắng nỗ lực để có những tiết học thật sự chất lượng chứ không chỉ mang tính hình thức; đầu tư thời gian, công sức để soạn giáo án và chủ động thay đổi, nghiên cứu các phương pháp giảng dạy cho phù hợp với hình thức dạy học trực tuyến để tiết học thông qua môi trường mạng thật sự thu hút, hiệu quả. Qua đó, giúp các em bổ sung kiến thức đầy đủ, đảm bảo nội dung chương trình và chất lượng theo đúng qui định. Bên cạnh việc việc triển khai các phần mềm, ứng dụng dạy học trực tuyến, các thầy cô giáo trong khoa còn trực tiếp giao bài tập cho các em học sinh, sinh viên qua nhóm Zalo, Gmail ... giúp cho các em có thể phát huy khả năng tự học của mình và chuẩn bị một tâm thế thật tốt để có thể bắt nhịp nhanh với việc học ngay khi trở lại trường trong thời gian tới.

          Tuy nhiên, chuyển từ hình thức dạy và học trực tiếp chuyển sang hình thức trực tuyến, giảng viên cũng gặp không ít khó khăn, nhưng với tinh thần trách nhiệm, mỗi giảng viên đã và đang nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy đáp ứng trong bối cảnh dịch bệnh phức tạp như hiện nay. Đồng thời, để việc học trực tuyến hiệu quả thật sự cần sự nỗ lực từ nhiều phía, trong đó quan trọng nhất là tinh thần học tập của chính các em học sinh, sinh viên thì việc học mới thực sự đạt hiệu quả cao nhất.

                

(Các em  học sinh, sinh viên đang học online)

Nguyến Thị Kim Oanh- GV khoa Giáo dục Đại cương

Thực hiện Kế hoạch số19/KH-CĐSL, ngày 19/1/2022 của trường Cao đẳng Sơn La về thực hiện ngày Chủ nhật xanh năm 2022, nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức tới CBGV và HSSV, nhất là giới trẻ về ý thức bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp. Đây cũng là hành động thiết thực hưởng ứng thực hiện đợt cao điểm hoạt động chào mừng 132 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ngày Môi trường Thế giới và các ngày lễ lớn trong năm.

Ngày 16/2/2022 toàn thể cán bộ giảng viên khoa Giáo dục đại cương đã tham gia vệ sinh, cải tạo cảnh quan, làm cỏ, tưới và chăm sóc cây khu vực trước và sau nhà B6, trồng thêm hoa, cây cảnh đảm bảo mỹ quan, sạch đẹp. Thu gom, vận chuyển rác thải, gạch đá trong các khu vực xung quanh nhà B6.

Ngày Chủ nhật xanh là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục, an toàn, hiệu quả và thiết thực, gắn liền với trách nhiệm của từng cán bộ giảng viện trong toàn khoa, góp phần đáp ứng các nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động chung của nhà trường.

Một số hình ảnh giảng viên khoa GDĐC tham gia lao động vì môi trường

 

       

Tin, ảnh: Nguyễn Thị Anh Thư - giảng viên khoa Giáo dục đại cương.