mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay66
mod_vvisit_counterHôm qua62
mod_vvisit_counterTuần này355
mod_vvisit_counterTuần trước572
mod_vvisit_counterTháng này2179
mod_vvisit_counterTháng trước3708
mod_vvisit_counterTất cả350519

Đề tài: “Nghiên cứu sản xuất liên kết chuỗi giá trị long nhãn"

Đề tài: Nghiên cứu sản xuất liên kết chuỗi giá trị long nhãn tại xã Chiềng Mung huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La”

Cây nhãn thuộc nhóm ngành hàng cây ăn quả chủ lực của Sơn La diện tỉnh Sơn La, tập trung chủ yếu tại huyện Sông Mã, Mai Sơn. Các hộ nông dân, có tập quán trồng nhãn lâu năm và ứng dụng trình độ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, ra hoa rãi vụ năng suất và chất lượng khá cao.

Với phương pháp phân tích S.W.O.T, lợi thế cạnh tranh (Porter) và lợi thế so sánh bằng hệ số chi phí nguồn lực (DRC), đề tài đã đi vào phân tích sản xuất chuỗi giá trị từ hộ nông dân sản xuất, thương lái thu gom, lò sấy chế biến long nhãn Hợp tác xã nhãn chín muộn Chiềng Mung huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La, đến tình hình tiêu thụ tại chợ đầu mối trong và ngoài tỉnh Sơn La.

Hiệu quả kinh tế sản xuất liên kết chuỗi giá trị tại xã cho thấy sự đóng góp đáng kể vào nền kinh tế. Tuy nhiên, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chưa có hệ thống, thiếu chặt chẽ. Nguy cơ về giá đầu vào tăng trong khi giá đầu ra chưa ổn định, công tác nghiên cứu, dự báo thị trường và xúc tiến thương mại chưa tốt. Các tác nhân tham gia vận hành chuỗi dựa trên lợi ích cục bộ, thiếu bền vững. Một số kênh phân phối chưa thật hiệu quả, khi mà giá trị gia tăng và lợi nhuận chưa thật tương xứng với việc đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tác nhân. Hướng tới, cần phát triển vùng chuyên canh năng suất cao, chất lượng đồng bộ, bên cạnh nghiên cứu giảm tỷ lệ hao hụt, sản phẩm chế biến long nhãn đảm bảo an toàn thực phẩm, định hướng phù hợp với thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, trên lợi ích lâu dài của các tác nhân tham gia chuỗi.

Tuy nhiên, tại xã Chiềng Mung không phải tất cả các hộ nông dân đều tham gia vào sản xuất chuỗi giá trị, những hộ nông dân tham gia không có sự ràng buộc với các tác nhân khác bằng văn bản. Nhận thấy nhiều ưu thế khi tham gia vào sản xuất liên kết chuỗi giá trị long nhãn nên nhu cầu tham gia vào chuỗi là rất lớn. Hiện tại các thành viên tham gia sản xuất liên kết chuỗi giá trị long nhãn tại hợp tác xã nhãn chín muộn xã Chiềng Mung đã giải quyết số lượng lớn lao động cố định và lao động nhàn rỗi tại địa phương.

Các liên kết hiện có phần lớn là liên kết dọc giữa người nông dân với doanh nghiệp và hợp tác xã. Doanh nghiệp đóng vai trò người thu mua, bao tiêu toàn bộ hàng hóa do nông dân sản xuất ra theo một mức giá sàn do doanh nghiệp đặt ra. Nông dân là chủ thể chính trong chuỗi liên kết vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng. Người nông dân dụng hết sản phẩm đã sản xuất ra làm nguyên liệu đầu vào cho Hợp tác xã sản xuất long nhãn, tăng thu nhập.

Long nhãn sấy khô Nguyễn Phòng là sản phẩm được hợp tác xã nhãn chín muộn xã Chiềng Mung sản xuất với chất lượng cao, được sản xuất theo công nghệ lò sấy hơi ép nhiệt kín. Tất cả đều tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Trong bối nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng khắt khe đòi hỏi mối quan hệ trong sản xuất liên kết chuỗi giá trị long nhãn phải áp dụng những tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP trong canh tác, để tăng sức cạnh tranh trong và ngoài khu vực.

Đứng trước thực trạng thị trường các nước đang phát triển là thị trường có thu nhập thấp có thể sẽ làm giảm lợi ích xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam. Các lợi thế tương đối của sản xuất nông nghiệp Việt Nam sẽ bị hạn chế do tính chất tương đồng của các sản phẩm trong cùng một khu vực tự nhiên, mức chênh lệch về giá lao động. Dịch Covid-19 bùng phát mạnh ảnh hưởng rất lớn tới xuất nhập khẩu nông sản trên toàn thế giới về trung hạn.


Để nối kết thị trường hiệu quả cho một sản phẩm hay một ngành hàng nông sản thì cần thiết hình thành và phát triển các liên kết dọc, liên kết ngang giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích các tác nhân liên quan xây dựng mô hình liên kết hỗn hợp nhằm khai thác tối đa các cơ hội tiếp cận đồng thời đưa ra các biện pháp mang tính điều chỉnh, kết hợp các yếu tố thách thức để đưa ra các giải pháp mang tính phòng thủ.

Để thực hiện được mô hình sản xuất liên kết chuỗi giá trị long nhãn theo mô hình trên đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ các giải pháp đã đề xuất trên phương châm bốn nhà cùng làm, phát huy hết vai trò của từng chủ thế mới khai thác được tối đa lợi thế so sánh ngành, vùng, phát triển nông nghiệp bền vững. Chúng tôi rất mong các bộ, ngành Trung ương giúp xã Chiềng Mung mở rộng diện tích vùng trồng, phát triển diện tích sản xuất nông nghiệp an toàn, hỗ trợ đăng ký chỉ dẫn địa lý. Sớm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc giúp các chủ thể đẩy nhanh tiến độ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước.

 
Kỷ niệm 73 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ

 

Nhân dịp kỷ niệm 73 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2020). Sáng ngày 27/7/2020, đại diện chính quyền và công đoàn cơ sở, công đoàn bộ phận 07 trường Cao đẳng Sơn La đã đến thăm hỏi, động viện các gia đình Công đoàn viên trong nhà trường thuộc đối tượng gia đình thương binh liệt sỹ.


Tại đây, đoàn thăm hỏi đã bày tỏ lòng tri ân sâu sắc với các thương, bệnh binh, gia đình chính sách trong dịp kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sỹ. Đồng thời, chúc cho các thương binh luôn mạnh khỏe, luôn là tấm gương sáng cho con cháu và thế hệ trẻ học tập, noi theo; mong muốn các gia đình tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, nỗ lực vượt khó, giáo dục con cháu thi đua học tập, lao động sản xuất, góp phần vào sự phát triển của quê hương, đất nước./.


 

 

 
GIẢI PHÁP NÂNG CAO KĨ NĂNG THỰC HÀNH,THỰC TẾ CHO SINH VIÊN NGÀNH KẾ TOÁN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA

GIẢI PHÁP NÂNG CAO KĨ NĂNG THỰC HÀNH,THỰC TẾ CHO SINH VIÊN NGÀNH KẾ TOÁN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA

Trần Thị Quyên

Khoa kinh tế

1. Mở đầu

Hiện tại, ở tỉnh Sơn La với gần 4.864 doanh nghiệp, hàng trăm đơn vị hành chính sự nghiệp, hơn 204 xã, phường… thì mỗi năm cần hàng nghìn kế toán viên. Điều này cho thấy nhu cầu về nhân sự ngành kế toán rất lớn, song thực tế trình độ nhân sự ngành này lại chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội, đặc biệt là công cuộc “săn đầu người” cho các vị trí kế toán trưởng và giám đốc tài chính của các Công ty, tập đoàn lớn vẫn rất khó khăn do thiếu nguồn nhân lực trình độ cao, các sinh viên chưa tự tin khi thực hiện các công việc tại các doanh nghiệp. Đó cũng là lý do có sự đào tạo ồ ạt nghề nghiệp kế toán trong thời gian gần đây.

Thực trạng cho thấy, phần đông các doanh nghiệp hiện nay tuyển dụng kế toán đòi hỏi sinh viên phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm, tuy nhiên các doanh nghiệp đã đưa ra ý kiến chung rằng: “sinh viên ngành kế toán sau tốt nghiệp 5 năm đầu tiên là học việc”, nhiều kỹ năng chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, tính thực hành – thực tế trong công việc của sinh viên còn yếu.

Chính vì vậy, đã đặt ra cho tôi một giảng viên chuyên ngành kế toán khoa kinh tế trường cao đẳng Sơn La trong vấn đề giảng dạy các môn học liên quan đến chuyên ngành kế toán: “Làm sao nâng cao kĩ năng thực hành, thực tế cho sinh viên trong từng môn học” luôn là vấn đề tôi trăn trở.

2. Tồn tại

Qua quá trình tìm hiểu thực tế tại một số doanh nghiệp và thực trạng đào tạo kế toán tại các cơ sở, các doanh nghiệp đã phản ánh một số vấn đề như sau:

Đào tạo tại các cơ sở chỉ mang nặng về lý thuyết mà chưa gắn với thực hành nghề nghiệp. SV mới tốt nghiệp khi được tuyển dụng gần như rất yếu các kỹ năng thực hành nghề nghiệp kế toán.

Thiếu kỹ năng giải trình số liệu với cơ quan quản lý, sinh viên sau tốt nghiệp chỉ biết thực hiện công việc mà không có khả năng giải trình số liệu khi có kiểm tra.

Kỹ năng cập nhật kiến thức văn bản pháp luật rất yếu. Hầu như làm theo suy luận, kinh nghiệm đã dẫn đến việc sai phạm theo quy định hiện hành. Trong khi, người làm kế toán đòi hỏi tính tuân thủ pháp luật cao. Đó là kết quả của hơn 90% các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi kiểm tra có vấn đề.

Chính vì vậy, các doanh nghiệp đã đề ra yêu cầu sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng chuyên ngành kế toán, cần có những kiến thức và kỹ năng cơ bản sau:

(1) Yêu cầu kiến thức lý thuyết.

(2) Tính thực hành trong nghề nghiệp kế toán.

(3) Các kỹ năng khác:

+ Tin học.

+ Ngoại ngữ.

+ Kỹ năng tìm kiếm văn bản pháp luật.

(4) Kỹ năng mềm trong giao tiếp và kỹ năng nghề nghiệp kế toán.

3. Nguyên nhân

- Nguyên nhân chủ quan: Hạn chế lớn nhất ở sinh viên khi tham gia với môi trường làm việc là vấn đề lập kế hoạch, thâm nhập thực tế hoạt động của ngành nghề, công việc; tìm hiểu quy trình hoạt động của đơn vị; sử dụng, ứng dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tế môi trường công việc, và yếu kỹ năng mềm, từ viết email, dùng máy tính, máy photocopy.

-  Nguyên nhân khách quan: Trong các nguyên nhân khách quan làm sinh viên chưa thích ứng với môi trường công việc khi đi làm tại các doanh nghiệp thì chiếm đa số vẫn là nội dung học tập ở nhà trường ít chú trọng thực hành mà nặng về lý thuyết, nhà trường chưa có biện pháp giáo dục kỹ năng thích ứng môi trường công việc cho sinh viên, chưa có sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.

4. Giải pháp

Xuất phát từ những lý do đó, chúng ta phải đặt cho mình những yêu cầu trong công tác giảng dạy và chú trọng đến những vấn đề sau:

4.1. Về phía giảng viên

Nâng cao chất lượng bài giảng

Giảng dạy thực hành nghiệp vụ kế toán phải chuyển đổi cách học từ “nhớ” sang học để “hiểu” và học để “vận dụng”. Điều này, đặc biệt phù hợp và thiết thực với phương pháp giảng dạy, đào tạo nghiệp vụ kế toán, vì kế toán là một chuyên ngành có tính logic và hệ thống rất cao.Cần thay đổi cách phương pháp giảng dạy, đào tạo nghiệp vụ kế toán theo hướng lấy người học làm trung tâm. Lấy người học làm trung tâm còn có ý nghĩa là, phải dạy những gì người học cần chứ không phải là dạy những gì mà cơ sở đào tạo có khả năng thực hiện. Hướng SV tự thực hiện rèn luyện các kỹ năng cần thiết: Tỷ mỉ, cẩn thận, thành thạo chuyên môn, ứng dụng tin học và làm việc theo nhóm,...

Nâng cao kĩ năng nghề nghiệp thực tế

Nâng cao chất lượng giảng dạy thực hành nghiệp vụ kế toán phải song hành với việc nâng cao chất lượng của cán bộ giảng dạy kế toán, theo hướng gắn với kỹ năng nghề nghiệp thực tế. Bởi vậy, cần tăng cường tập huấn kỹ năng nghề thực tế cho đội ngũ Giảng viên. Thực hiện liên kết chặt chẽ với khối DN, cơ sở sử dụng lao động nhằm nhìn ra hướng đào tạo thiết thực, theo nhu cầu xã hội. Đồng thời, có thêm các thông tin, tình huống nghiệp vụ thực tế. Rất cần thiết sự tham gia vào môi trường kế toán thực tế, để Giảng viên kế toán không chỉ là người nắm vững lý thuyết còn là người làm được kế toán thực tế.

4.2. Về phía người học

Học lẫn nhau theo nhóm.

Trong giảng dạy, chúng ta nên thường xuyên áp dụng mô hình “học lẫn nhau” theo nhóm.Theo đó, giáo viên tập trung vào thảo luận, hướng dẫn phát hiện vấn đề, giám sát việc tham dự thảo luận theo các mục tiêu học thuật. Mô hình này khuyến khích sinh viên tập trung vào những nguyên tắc cơ bản vì thế, học mang tính chủ động và sâu hơn. Chú ý tính thực hành trong từng phần giảng.

Phát triển kỹ năng mềm.

Để rèn luyện các kỹ năng mềm cho sinh viên từ viết email, dùng máy tính, máy photocoppy, khả năng tìm kiếm văn bản pháp luật: trước tiên giới thiệu cho sinh viên những trang web có liên quan, giới thiệu những văn bản pháp luật liên quan đến phần giảng. Cuối cùng, để nâng cao kỹ năng, nêu vấn đề và yêu cầu sinh viên tìm kiếm văn bản liên quan. Công cụ Internet là công cụ hổ trợ hiệu quả nhất.

Tài liệu tham khảo

1. Hiếu Nguyễn, cấp bách nâng cao chất lượng đào tạo kế toán và kiểm toán, www.giaoducthoidai.vn

 

2. Đinh Thị Thủy, (2014), Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán Việt Nam, 3. Tạp chí tài chính, 3(1), 20-25. 3. http://webketoan.com/threads/2779170-mot-so-van-de-ve-nhan-luc-nguon-ke-toankiem- toan-viet-nam-trong-boi-canh-toan-cau-hoa/

 

 
Giải bóng chuyền học sinh, sinh viên lần thứ II năm học 2019-2020

Thực hiện Kế hoạch số 123/KH-CĐSL về việc tổ chức Giải bóng chuyền học sinh, sinh viên lần thứ II năm học 2019-2020, sáng thứ 7 ngày 18/7/2020 đội số 2-Liên quân khoa Kinh tế-VHDL- Nông nghiệp đã tham gia thi đấu hăng say tại sân tập đa năng trường Cao đẳng Sơn La.

Đội thi đã bốc thăm thi đấu vòng tròn với đội 4: Khoa Nội vụ- KTCN trong trận mở đầu, và đội 1: Khoa Đào tạo giáo viên trong trận thứ 2. Trải qua những màn tranh tài đầy kịch tính, khoa Đào tạo giáo viên đã giành giải Nhất một cách hết sức thuyết phục; giành giải Nhì là liên quân khoa Nội vụ- KTCN; Liên quân Kinh tế-VHDL-Nông nghiệp vinh dự được giải Ba.

Đây là một sân chơi đầy bổ ích để học sinh sinh viên trong toàn trường rèn luyện sức khỏe đồng thời có cơ hội giao lưu thể thao với nhau tạo khí thế thi đua sôi nổi rộng khắp.

Đọc thêm...
 


Trang 3 trong tổng số 13
free pokerfree poker

Thông báo mới

Đang trực tuyến

Hiện có 14 khách Trực tuyến
Flag Counter