Đảng Cộng sản việt nam ra đời - Bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam

Nguyễn Tất Thành tại Hội nghị Versailles, Pháp

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Trong 85 năm qua, dưới sự lãnh đạo của đảng, nhân dân ta đã tiến hành cuộc cách mạng tháng tám 1945 thành công, xóa bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, lập nên nước việt nam dân chủ cộng hòa (nay là nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam); đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, là lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất và những bài học kinh nghiệm quý báu như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: là cả một pho lịch sử bằng vàng. Vì vậy, học tập, nghiên cứu lịch sử Đảng là trách nhiệm và quyền lợi của mỗi chúng ta.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi rất vẻ vang, mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển của dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội; mở ra thời đại mới: thời đại Hồ Chí Minh.

Sự ra đời của Đảng đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Đảng ra đời trong sự tác động của hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta.

Về chính trị, chúng trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thi hành chính sách cai trị chuyên chế, biến một bộ phận của giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến thành tay sai đắc lực, tạo nên sự cấu kết giữa chủ nghĩa đế quốc và phong kiến tay sai, đặc trưng của chế độ thuộc địa. Sự cai trị của chính quyền thuộc địa đã làm cho nhân dân mất hết quyền độc lập, quyền tự do dân chủ; mọi phong trào yêu nước bị đàn áp dã man, mọi ảnh hưởng của các trào lưu tiến bộ từ bên ngoài vào đều bị ngăn cấm.

Về kinh tế, thực dân Pháp bóc lột tàn bạo nhân dân ta, thực hiện chính sách độc quyền, kìm hãm sự phát triển nền kinh tế độc lập của nước ta. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, vô nhân đạo, tăng cường vơ vét tài nguyên và bóc lột nặng nề, kể cả duy trì bóc lột kiểu phong kiến… làm cho nhân dân ta bị bần cùng, nền kinh tế bị què quặt, lệ thuộc.

Về văn hóa – xã hội, chúng thực hiện chính sách ngu dân, khuyến khích văn hóa nô dịch, sùng Pháp, nhằm kìm hãm nhân dân ta trong vòng tăm tối, dốt nát, lạc hậu, phục tùng sự cai trị của chúng.

Với chính sách khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn, hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Nước ta từ chế độ phong kiến chuyển sang chể độ thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Viêt Nam tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp. Hai mâu thuẫn đó quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp xam lược là chủ yếu. Vì vậy, nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống địa chủ phong kiến tay sai không tách rời nhau. Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. Đó là yêu cầu của cách mạng Việt Nam đặt ra, cần được giải quyết.

Trong quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài và gian khổ, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất. Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống lại chúng. Từ năm 1858 đến trước năm 1930 hàng trăm phong trào và các cuộc khởi nghĩa oanh liệt nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, như phong trào Cần Vương; phong trào Đông Du, Đông Kinh – Nghĩa Thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học… lãnh đạo. Các phong trào đấu tranh đó là vô cùng anh dũng, nhưng tất cả đều thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo.

Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh đó là do những người yêu nước đương thời chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. Cách mạng nước ta đứng trước cuộc khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước. Việc tìm lối ra, thoát khỏi cuộc khủng hoảng là nhu cầu nóng bỏng nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chịu tác động yếu tố khách quan, của tình hình thế giới, của xu thế thời đại.

Sự xuất hiện của Học thuyết Mác về Đảng Cộng sản: Tuyên ngôn Đảng cộng sản của Mác – Enghen (1848) nêu rõ Đảng Cộng sản là tổ chức chính trị của giai cấp công nhân, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đấu tranh vì lý tưởng giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động thoát khỏi sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản.

Cuộc cách mạng Tháng Mười của nước Nga thành công cùng với phong trào công nhân ở Châu Âu đã làm sáng tỏ và khẳng định thêm những quan điểm của Mác về Đảng của giai cấp vô sản - Đảng kiểu mới, phân biệt với Đảng của giai cấp tư sản.

Những năm 20 của thế kỷ XX hàng loạt Đảng Cộng sản ra đời ở các nước tư bản chính quốc và các nước thuộc địa, minh chứng cho sự đúng đắn của Học thuyết Mác - Enghen - Lênin, khẳng định xu thế tất yếu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, củng cố thêm niềm tin vào vai trò của Đảng cách mạng trong nhận thức Hồ Chí Minh:

+ Năm 1920 Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Inđônêxia ra đời.

+ Năm 1921 Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời.

+ Năm 1922 Đảng Cộng sản Nhật Bản ra đời.

+ Năm 1925 Đảng Cộng sản Triều Tiên, Đảng Cộng sản Ấn Độ ra đời.

+ Năm 1928 Đảng Cộng sản Thái Lan ra đời.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn Việt Nam, nhận thức rõ đặc điểm và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam, Hồ Chí Minh mở rộng sự liên kết giữa phong trào cộng sản quốc tế với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, truyền bá tư tưởng cộng sản vào Việt Nam, chuẩn bị tích cực và chu đáo các điều kiện để thành lập đảng ở Việt Nam, Người chỉ rõ sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam dẫn đến sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn với công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra nước ngoài, bắt đầu đi tìm con đường cứu nước. Người bôn ba khắp năm châu, bốn biển, vừa lao động, vừa học tập, quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Mỹ) và tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp.

- Thông qua nghiên cứu lý luận cách mạng tư sản trong hành trình tìm đường cứu nước ở nước ngoài Hồ Chí Minh nhận thức rõ hạn chế của các Đảng chính trị của giai cấp tư sản từ đó Người tìm ra con đường khắc phục những hạn chế đó chính là xây dựng Đảng của giai cấp vô sản đấu tranh vì quyền lợi của số đông dân chúng.

- Trong hành trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh có mối liên hệ thân thiết với nhiều lãnh tụ của các tổ chức Đảng chính trị trên thế giới, trong đó có nhiều lãnh tụ của các Đảng Cộng sản, đồng thời Người là đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp - Người thầy vĩ đại của Đảng Cộng sản Pháp trong phong trào chống chủ nghĩa thực dân, từng giới thiệu 5 thanh niên Trung Quốc tham gia ĐCS Pháp.

- Người trực tiếp nghiên cứu, tìm hiểu đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Bôsêvich Nga, chứng kiến những thành quả lớn lao mà nước Nga đạt được

Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) nổ ra và thắng lợi đã có nhiểu ảnh hưởng đến Nguyễn Ái Quốc. Người rất ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục V.I. Lênin và đã tham gia nhiều hoạt động ủng hộ và bảo vệ cách mạng Nga; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Những hoạt động cách mạng phong phú đó đã giúp Người từng bước rút ra những bài học quý báu và bổ ích cho sự lựa chọn con đường cách mạng của mình.

Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở. Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu dân, cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người đã xác định những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc. Đó là con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng vô sản thế giới…

Đối với Nguyễn Ái Quốc, đây là bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, từ một chiến sỹ giải phóng dân tộc trở thành một chiến sỹ cộng sản quốc tế. Sự kiện đó cũng đánh dấu bước ngoặt mở đường thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt Nam.

Trở thành chiến sỹ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế, tích cực hoạt động trong phong trào cách mạng thuộc địa, nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và Việt Nam qua các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và sau này là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925).

Sau một thời gian ngắn tham gia học tập ở Liên Xô và hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, tháng 12-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Công sản Việt Nam. Tại đây, Người sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, sáng lập và viết bài cho báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh (1927)… nhằm tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Người tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cốt cán, tiếp tục chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng.

Chủ nghĩa Mác - Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như “người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”. Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và của các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Vì vậy, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập:

- Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ.

- An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ.

- Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.

Như vậy, chỉ  trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành lập. Điều đó phản ánh xu thế tất yêu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một đảng thống nhất lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc, người chiến sỹ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu đó của lịch sử: thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.

Từ ngày 03/02 đến 07/02/1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng - Trung Quốc) dưới sự chỉ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng…

Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sỹ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.

Đó là một mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước. Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo được Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đã xác định: cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong cách mạng chỉ có thể phát huy được khi được tập hợp, liên kết với vai trò lãnh đạo của tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản, Đảng có vai trò lãnh đạo, tổ chức và giáo dục nhân dân thành đội quân hùng mạnh.

Đảng xác định tình hình, vạch rõ đường lối, phương châm cách mạng để định hướng cách mạng cho quần chúng đi đến thắng lợi. Làm cách mạng trước hết phải có Đảng để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi. Đảng có vững thì cách mạng mới thành công.

Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định hàng đầu sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam, điều này đã được minh chứng qua thực tế lịch sử cách mạng từ khi có Đảng. Chủ tịchHồ Chí Minh khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân.

Trong những điều kiện cụ thể Đảng có thể mang tên khác nhau nhưng về mặt bản chất giai cấp của Đảng không thay đổi: tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đây là giai đoạn mà quyền lợi giai cấp công nhân, nhân dân lao động và quyền lợi của dân tộc thống nhất với nhau vì vậy Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng vừa là đội tiên phong của giai cấp cũng là đội tiên phong của dân tộc.

Nội dung quy định bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải chỉ là số lượng đảng viên xuất thân từ giai cấp công nhân nhiều hay ít mà là ở nền tảng tư tưởng và lý luận của Đảng phục vụ mục tiêu giải phóng giai cấp công nhân trước hết và trên hết, Đảng đại diện cho lợi ích giai cấp công nhân và lợi ích dân tộc thống nhất.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp của chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam.

Chặng đường vẻ vang 85 năm qua của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định: sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu kỳ diệu.

Tuy nhiên, trong lãnh đạo và tổ chức phong trào cách mạng Đảng không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế, có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm. Điều quan trọng là Đảng sớm phát hiện ra những sai lầm, khuyết điểm của mình, đề ra những biện pháp sửa chữa đúng đắn, kịp thời. Đảng công khai tự phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa chữa và sửa chữa có kết quả. Vì vậy, Đảng ta được nhân dân tin cậy, thừa nhận Đảng là đội tiên phong chính trị, người lãnh đạo chân chính duy nhất của cả dân tộc, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam./.

 

 
free pokerfree poker

ĐOÀN TN & HỘI SV

Flag Counter