mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay82
mod_vvisit_counterHôm qua161
mod_vvisit_counterTuần này873
mod_vvisit_counterTuần trước487
mod_vvisit_counterTháng này2078
mod_vvisit_counterTháng trước3534
mod_vvisit_counterTất cả154181

Phong tục tập quán

Tết Nguyên Đán là ngày lễ có ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, đây là ngày để mọi con người đều đoàn tụ với gia đình, trở về quê hương và nhớ về tổ tiên.
Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.

Tết Nguyên Đán Việt Nam có ý nhĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn cuộc sống, khao khát của con người về sự hài hòa Thiên – Địa – Nhân. Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp; với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc; với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh…

Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác.

Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 1

Nguyên nghĩa của chữ “Tết” chính là “tiết”. Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán” (Tết Nguyên Đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên).

Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.

Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán

Nguồn gốc của tết vẫn còn đang được tranh cãi đó, nhưng hầu hết thông tin đều cho rằng ngày tết Nguyễn Đán có nguồn gốc từ Trung Quốc và được du nhập về Việt Nam trong 1000 năm bắc thuộc. Nhưng theo sự tích "Bánh chưng bánh dày" thì người Việt đã ăn tết từ trước thời vua Hùng, nghĩa là trước 1000 năm bắc thuộc.

Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 2

Có thể thấy tết ở Việt Nam đã có từ rất lâu, trước thời Tam Hoàng Ngũ Đế. Khổng Tử đã viết trong cuốn Kinh Lễ: "Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống rượu và ăn chơi vào những ngày đó Sách Giao Chỉ Chí cũng có đoạn viết “Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca, ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới,không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang, Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này". Như vậy có có thể nói Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ Việt Nam.

Tết của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc có ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng vẫn có những đặc trưng riêng của hai quốc gia.

Ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán đối với người Việt Nam

Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh. Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết – do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông – có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính.

Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì”, người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời… người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.

Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 3

Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,… được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.

Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri…

Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 4

Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về ăn cơm, vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình Việt Nam, bàn thờ gia tiên có một vị trí rất quan trọng. Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.

Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm. Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.

Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 5

Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẻ. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới. Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn… Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.

Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 6

Người Việt Nam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng.

Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.

Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết…

 

 
Đoàn thanh niên - Hội sinh viên

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TẬP HỢP ĐOÀN VIÊN

Làm thế nào để tập hợp đoàn viên, thanh niên hiệu quả, để chi đoàn thực sự trở thành cầu nối giữa đoàn viên, thanh niên với tổ chức Đoàn? Cán bộ đoàn có đơn thuần chỉ là những người hát hay, đàn giỏi?... Đây là những vấn đề được nhiều cán bộ đoàn cơ sở băn khoăn, trăn trở.

Chi đoàn là tế bào cơ bản trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức đoàn thanh niên, là nền tảng đoàn kết, tập hợp, giáo dục và rèn luyện thanh niên, là người đại diện bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của đoàn viên thanh niên. Chi đoàn cũng là nơi tổ chức thực hiện mọi chủ trương công tác của đoàn, là cầu nối giữa thanh niên với tổ chức đoàn.

Hoạt động của chi đoàn là toàn bộ những hoạt động, những mặt công tác mà chi đoàn tiến hành thực hiện nhằm giải quyết những yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, của ngành, của từng đơn vị, cũng như những yêu cầu của bản thân tổ chức đoàn và nhu cầu lợi ích chính đáng của đoàn viên, thanh niên. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng hoạt động, song thực tế hoạt động của các chi đoàn đã bộc lộ một số tồn tại nhất định: chất lượng hoạt động của các Chi đoàn còn thấp; nội dung, sinh hoạt chi đoàn chưa được tổ chức thường xuyên, hình thức sinh hoạt và hoạt động còn thiếu hấp dẫn, ít sáng tạo, chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn hiện nay. Vai trò của người đoàn viên chưa được phát huy, khả năng vận động, tập hợp đoàn viên, thanh niên còn nhiều hạn chế; một bộ phận đoàn viên còn thụ động, ý thức xây dựng tổ chức chưa cao, tình trạng bỏ sinh hoạt đoàn, thờ ơ với hoạt động và sinh hoạt của tổ chức đoàn vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó phải kể đến các nguyên nhân như: năng lực hạn chế của đội ngũ cán bộ đoàn; công tác tuyên truyền giáo dục đoàn viên thanh niên đang còn cứng nhắc, rập khuôn; nội dung, phương thức hoạt động của chi đoàn cơ sở chậm đổi mới, chưa phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của đoàn viên, thanh niên; công tác quản lý đoàn viên thiếu chặt chẽ, thậm chí buông lỏng; kinh phí cho hoạt động đoàn quá hạn hẹp thậm chí còn không có; thời gian dành cho hoạt động đoàn ít một phần là do đời sống đoàn viên, thanh niên vẫn còn nhiều khó khăn…

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động của các chi đoàn cơ sở trong điều kiện hiện nay? Và làm thế nào để khơi dậy tinh thần xung kích, nhiệt huyết của thanh niên, sự gắn kết chia sẻ tình cảm, trách nhiệm trong đoàn viên khi tham gia tổ chức và các hoạt động phong trào? Đứng trước thực trạng đó, để nâng cao chất lượng hoạt động của các chi đoàn cơ sở cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn và đoàn viên mà trọng tâm là nâng cao giác ngộ lý tưởng, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của người đoàn viên; xây dựng đội ngũ đoàn viên cốt cán, nòng cốt trong các phong trào thanh niên, có sức ảnh hưởng đối với thanh niên, cụ thể:

- Phát triển đoàn viên với phương châm tăng về số lượng, mạnh về chất lượng, phát triển đi đôi với củng cố tổ chức cơ sở đoàn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng củng cố, phát triển đoàn và tổ chức phong trào thanh niên. Người chỉ rõ: “Phải củng cố tổ chức của đoàn. Phải đoàn kết nội bộ chặt chẽ, và phải đoàn kết rộng rãi với các tầng lớp thanh niên; Cần phát triển Đoàn hơn nữa, nhưng phải chọn lọc cẩn thận, trọng chất lượng hơn số lượng”.

- Chúng ta biết rằng, đoàn mạnh không chỉ ở số lượng mà trước hết do chất lượng đoàn viên quyết định. Coi trọng chất lượng công tác phát triển đoàn, nghĩa là kết nạp đoàn viên mới đúng theo tiêu chuẩn, nguyên tắc và thủ tục Điều lệ Đoàn quy định. Chất lượng đoàn viên không chỉ quyết định ở khâu lựa chọn, kết nạp mà còn ở quá trình giáo dục, rèn luyện, sau khi được kết nạp.

Thứ hai, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động tổ chức cơ sở đoàn, gắn sinh hoạt, hoạt động của đoàn với việc chăm lo nhu cầu, lợi ích chính đáng của đoàn viên, thanh niên. Nội dung sinh hoạt phải thiết thực, phù hợp, cần lồng ghép các nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị mình làm chủ đề chính để đoàn viên thảo luận, bàn bạc và cùng thực hiện. Phát huy tính sáng tạo, vai trò chủ thể của người đoàn viên trong mọi sinh hoạt, hoạt động của tổ chức cơ sở đoàn, trong xây dựng và thực hiện các chủ trương công tác của Đoàn.

- Tổ chức các hoạt động của Chi đoàn một cách linh hoạt cả về địa điểm, thời gian, về hình thức và về loại hình hoạt động. Xây dựng tổ chức cơ sở Đoàn 4 chủ động: chủ động nắm bắt tình hình; chủ động xây dựng kế hoạch công tác; chủ động thực hiện nhiệm vụ; chủ động tham mưu với Cấp ủy Đảng, phối hợp với các tổ chức đoàn thể liên quan trong triển khai thực hiện công tác...

Thứ ba, tăng cường công tác tham mưu để các cấp ủy, chính quyền đơn vị cần nhận thức rõ vai trò của tổ chức đoàn trong việc tập hợp đoàn viên, thanh niên, coi đây là cơ sở để phát huy sức lực và trí tuệ của tuổi trẻ trong việc xây dựng đơn vị. Để từ đó có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích, tạo điều kiện cả về thời gian, kinh phí cho tổ chức đoàn và cán bộ đoàn hoạt động.

Trong giai đoạn hiện nay, xã hội ngày một phát triển, nhu cầu của đoàn viên thanh niên theo đó cũng ngày càng cao hơn. Chính vì vậy, việc đổi mới nội dung phương thức hoạt động của chi đoàn đáp ứng với tâm tư nguyện vọng của đoàn viên, thanh niên là điều cần thiết, góp phần xây dựng chi đoàn trở thành mái nhà chung đoàn kết tập hợp, giáo dục và rèn luyện đoàn viên thanh niên.

 

 

 
Đoàn thanh niên - Hội sinh viên

Những thanh niên lập nghiệp từ trồng trọt

Trong những năm qua, phong trào sản xuất kinh doanh giỏi trong đoàn viên thanh niên ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nhiều đoàn viên thanh niên đã chọn cho mình hướng lập nghiệp từ trồng trọt và chăn nuôi. Từ việc lựa chọn hướng đi đúng, nhiều thanh niên đã đưa gia đình thoát nghèo vươn lên làm giàu, trờ thành những tấm gương điển hình tiên tiến trong phong trào lập thân, lập nghiệp.

Sinh năm 1988, trong một gia đình người M’nông tại xã Đắk Drô, huyện Krông Nô, Y Doan Byă với bản tính ham học hỏi, cần cù, chịu khó. Sau khi tốt nghiệp THPT anh tham gia nghĩa vụ quân sự, sau khi ra quân anh tiết kiệm được 8 triệu đồng, từ số vốn ít ỏi đó anh đầu tư chăn nuôi heo, vay vốn thêm từ Ngân hàng chính sách xã hội được 30 triệu đồng để mua đất trồng điều và cà phê xen canh; chăn nuôi bò sinh sản theo Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên. Sau một thời gian, anh tích góp được số tiền và vay mượn thêm từ gia đình, anh, chị em mua thêm được 05 ha đất. Với phương châm lấy ngắn nuôi dài, trồng đa cây, nên anh quyết định phân chia 01ha trồng khoai mì; 01ha trồng điều; 03 ha đất trồng cây hoa màu; cộng thêm 04 sào cà phê xen tiêu và 03 sào ruộng nước canh tác 02 vụ/năm, nhờ làm như vậy nên thu nhập được trải đều trong năm. Tổng thu nhập một năm được 200 triệu đồng, sau khi đã trừ chi phí anh thu lãi 150 triệu đồng/năm.

Y Doan Byă được tuyên dương thanh niên làm kinh tế giỏi cụm Tây Nguyên
Ngoài phát triển kinh tế, anh còn tham gia tích cực công tác xã hội, là Bí thư Chi đoàn Buôn Ol của xã Đăk Drô, anh luôn tham gia tích cực hoạt động công tác Đoàn tại địa phương, được cấp ủy và chính quyền địa phương đánh giá cao về tinh thần và trách nhiệm với công việc được giao.   Giống như Y Doan Byă, Đàm Tiến Thành cũng đã chọn hướng phát triển kinh tế từ trồng trọt và chăn nuôi. Năm 2004, Thành cùng gia đình từ Bắc Giang vào xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông lập nghiệp. Trong thời gian đầu chưa có nhiều kinh nghiệm trồng cây công nghiệp, chưa hiểu rõ về khí hậu và thổ nhưỡng nên việc trồng trọt và chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn.
Trao đổi với chúng tôi chàng thanh niên người dân tộc Cao Lan sinh năm 1989 Đàm Tiến Thành cho hay: Sau một thời gian sinh sống tại vùng đất mới tôi nhận thấy khí hậu tương đối thuận lợi, đất đai màu mỡ phù hợp cho việc trồng trọt và chăn nuôi nên đã quyết định chọn sản xuất nông nghiệp để phát triển kinh tế.  Nên  khi học xong Trung học phổ thông, tôi quyết định không theo học thêm mà ở nhà tham gia phát triển kinh tế cùng gia đình, cũng từ đây tôi bắt đầu suy nghĩ để tìm ra hướng đi và quyết tâm làm giàu trên chính mảnh đất gia đình chọn để lập nghiệp.
Đàm Tiến Thành thành công từ trồng trọt và chăn nuôi
Với bài toán chia 4,3 ha diện tích đất hiện có của gia đình thành những diện tích trồng các loại cây khác nhau: 2,5 ha trồng 3000 cây cà phê xen 200 cây điều và 300 cây tiêu, diện tích còn lại anh trồng cây chanh dây, hoa màu, cỏ VA06 để nuôi bò, gà thả vườn. Thiếu vốn sản xuất, anh đã tìm đến kênh vốn vay của Đoàn thanh niên và đã được hỗ trợ vay 80 triệu đồng từ Ngân hàng chính sách xã hội. Có vốn sản xuất cộng với những tính toán hợp lý, bước đầu anh đã thành công trên con đường lập nghiệp. Hiện tổng doanh thu của gia đình anh 340 triệu đồng/năm, sau khi đã trừ chi phí, tổng lãi thu được là 180 triệu đồng/năm.Ngoài phát triển kinh tế, với vai trò là một Đảng viên, Bí thư Chi đoàn thôn Đắk Lang, Thành luôn tích cực, năng nổ trong công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, là tấm gương trong phong trào lập thân lập nghiệp của huyện Đắk Glong.Sinh năm 1988, là giáo viên của Trường phổ thông Dân tộc nội trú Đắk Song, Vũ Thế Long đã quyết định làm giàu từ cây hồ tiêu.
Long tâm sự với chúng tôi rằng: Với mức lương khiêm tốn của giáo viên khó mà làm giàu được nên em đã trăn trở làm cách nào để khắc phục khăn phát triển kinh tế gia đình. Cuối cùng em đã chọn trồng hồ tiêu vì đây là cây thế mạnh của địa phương và đã có rất nhiều gia đình trồng hồ tiêu hiệu quả nên mình có thể học hỏi kinh nghiệm từ họ. Vấn đề khó khăn là em không có đủ vốn để bắt tay thực hiện ý tưởng, nhưng với sự hỗ trợ của bố mẹ, người thân và vay vốn từ ngân hàng em cũng đã có đủ vốn để bắt tay thực hiện ý tưởng của mình.
Vũ Thế Long là một trong 25 gương thanh niên làm kinh tế giỏi cụm Tây Nguyên được Trung ương đoàn tặng Bằng khen
Để chuẩn bị kiến thức và học hỏi kinh nghiệm trồng hồ tiêu, Long đã đi thăm quan rất nhiều vườn tiêu tại địa phương, học tập kiến thức trên mạng internet, anh đã nhận thấy đa số các vườn trồng cây hồ tiêu theo phương pháp canh tác truyền thống đầu tư rất cao trong khi tỉ lệ hồ tiêu mắc bệnh và chết là rất nhiều. Sau một thời gian tìm hiểu mô hình trồng trụ sống anh đã theo mô hình này. Đây là mô hình hồ tiêu bền vững và ít tốn chi phí hơn nên sau gần 4 năm hồ tiêu của anh phát triển rất tốt, tỉ lệ mắc bệnh ít với diện tích 4,3 ha trồng hơn 5.000 trụ cây sống. Năm 2015, mô hình của anh đã cho thu bói gần 3 tấn tiêu với gần 800 triệu đồng lợi nhuận.Là Bí thư Đoàn trường Phổ thông Dân tộc nội trú Đắk Song, ngoài việc tham gia phát triển kinh tế, làm giàu trên quê hương, anh còn nhiệt tình tham gia các phong trào của Đoàn, Hội, tham mưu cho ban giám hiệu nhà trường tổ chức các hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho các em sinh, tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, sẵn sàng chia sẽ, giúp đỡ các thanh niên gặp khó khăn trong khởi nghiệp.Y Doan Byă, Đàm Tiến Thành hay Vũ Thế Long, là những thanh niên có tuổi đời còn rất trẻ nhưng đã chọn cho mình những hướng đi đúng đắn để phát triển kinh tế gia đình, vươn lên làm giàu, trở thành những tấm gương sáng trong phong trào thanh niên lập thân, lập nghiệp.  Đây cũng là những người cán bộ Đoàn sôi nổi tràn đầy nhiệt huyết, luôn đi đầu trong việc tham gia các hoạt động tại địa phương, đơn vị.
 
Nguồn gốc và ý nghĩa của ngày lễ Giáng sinh (noel) 25/12

Nguồn gốc lễ Giáng Sinh

Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Nô-el, hay Nô-en (từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Em-ma-nu-el, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta) là một ngày lễ quốc tế kỷ niệm ngày Chúa Giê-su sinh ra đời của phần lớn người Cơ Đốc giáo. Họ tin là Giê-su được sinh tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN và năm 6.

Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12. Tuy nhiên, những người theo Chính Thống giáo Đông phương vẫn sử dụng lịch Juliêng để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory.

Nguyên thủy, lễ giáng sinh là của những người theo đạo Kitô giáo, nhằm kỷ niệm ngày sinh ra của người lãnh đạo tôn giáo mình, người mà họ cho là Thiên Chúa xuống thế làm người. Nhưng dần dần, theo thời gian và qua các lễ hội của phương Tây, người ta tổ chức lễ Giáng sinh ngày càng linh đình. Kết quả là bây giờ, lễ Giáng sinh được xem là một ngày lễ quốc tế, với ông già No-el, cây Giáng sinh và cây thông no-el.


Tên gọi Christmas

Chữ Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Chữ Christ (Đấng chịu sức dầu) là tước vị của Đức Giêsu. Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (thánh lễ). Khi chữ Christ và Mas viết liền thành ra chữ Christmas. Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ, tức là ngày lễ Giáng sinh của Đức Giêsu.

Chữ Christmas và Xmas đều có cùng một ý nghĩa như nhau. Vì chữ Hy lạp viết chữ Christ là Christos,Xpiơtós hay Xristos. Người ta dùng phụ âm X để tượng trưng cho nguyên chữ Xristos hay Xpiơtós, rồi thêm chữ Mas kế cận để thành chữ Xmas. Như vậy Xmas cũng có nghĩa là ngày lễ của đấng Christ.

Ý nghĩa:

Ngoài ý nghĩa theo đạo Thiên Chuá, Noël là một ngày lễ gia đình, một ngày đặc quyền để tụ tập quây quần mọi người, mọi thế hệ trong gia đình. Lễ này dưới mọi hình thức được biểu lộ, tạo những kỷ niệm chung và duy trì tình cảm giữa mọi người trong gia đình. Mỗi người tìm được, bằng cách thức riêng của mình, để tạo dựng mối liên hệ : chia sẻ với nhau một bữa ăn chung, một đêm không ngủ, nghe thuật lại một câu chuyện, quây quần bên cạnh cây sa pin Noël… Với địa vị ngày càng lớn lao của trẻ con trong gia đình, ngày Noël trở thành một buổi lễ của trẻ em : một đêm thần diệu mà hầu như tất cả mọi ước nguyện trẻ con được thành sự thật trong sự sung sướng của những người lớn.

Ngày Noel cũng là một thông điệp của hoà bình : ” Vinh danh Thượng Đế trên cao – Bình an cho người dưới thế ” : đây là câu được hát bởi những thiên thần báo tin sự xuất hiện của vị cứu thế và Noël cũng là ngày người ta chia sẻ với những ai bị bỏ rơi, bị cô đơn, bệnh hoạn, già yếu…


Lịch sử:

Thời kỳ Giáo hội cơ đốc sơ khai (2,3 thế kỷ đầu công nguyên), lễ này được mừng chung với lễ Hiễn linh. Tuy nhiên ngay từ năm 200, thánh Clementê Alexandria (150-215) đã nói đến một lễ hết sức đặc biệt được cử hành vào ngày 20 tháng 5. Còn Hội thánh La tinh thì mừng kính lễ ấy vào ngày 25 tháng 12.[2].

Theo một nguồn khác thì tín hữu cơ đốc sơ khai không ăn mừng lễ sinh nhật, vì họ cho rằng ăn mừng sinh nhật là làm theo thói quen của dân ngoại đạo thờ thần tượng. Bởi lẽ đó họ không ăn mừng lễ giáng sinh của Đức Jesus trong suốt ba thế kỷ đầu. Đến thế kỷ IV, những người Cơ đốc mới bắt đầu muốn ăn mừng Lễ giáng sinh của Đức Jesus mỗi năm một lần, nhưng lại sợ bị chính quyền La Mã phát hiện và bắt bớ bởi vì đến lúc đó, cơ đốc giáo vẫn chưa được công nhận là một tôn giáo hợp pháp.

Những người La Mã, hàng năm ăn mưng “Thần Mặt trời” (Feast of The SolInvictus) đem ánh sáng đến cho trần gian vào ngày 25 tháng 12. Những người cơ đốc đã nhân cơ hội này để tổ chức ăn mừng ngày Đức Giêsu giáng sinh vào đem ánh sáng và sự sống đến cho nhân loại (Gioan 8:12) cùng một ngày với ngày lễ “Thần Mặt trời” của người La Mã. Nhờ vậy, chính quyền đã không phát hiện việc các tín hữu cơ đốc tổ chức ăn mừng Lễ giáng sinh của Đức Giêsu.[1].

Đến năm 312, Hoàng đế La Mã Constantine đã bỏ đa thần giáo và theo cơ đốc. Ông này đã hủy bỏ ngày lễ ăn mừng “Thần Mặt trời” và thay vào đó là ngày ăn mừng sinh nhật của Đức Jesus. Đến năm 354, Giáo hoàng Liberius công bố ngày 25 tháng 12 là ngày chính thức để cử hành lễ Giáng sinh của Đức Jesus.

Trong nhiều thề kỷ, những nhà ghi chép Ki-tô giáo chấp nhận Giáng sinh là ngày Jesus được sinh ra đời. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 18, các học giả bắt đầu đề xuất một cách giải thích khác. Isaac Newton cho rằng ngày Giáng sinh đã được lựa chọn để tương ứng với đông chí ở Bắc bán cầu, từng được đánh dấu là ngày 25 tháng 12. Năm 1743, Paul Ernst Jablonski người Đức lập luận ngày Giáng sinh được xác định ngày 25 tháng 12 để khớp với ngày Sol Invictus trong tôn giáo La Mã cổ. Ngoài ra trước người Kitô giáo, nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác cũng ăn mừng ngày lễ cuối tháng 12.

 

 

 

 


Trang 4 trong tổng số 43
free pokerfree poker
Flag Counter